Saturday, 30 April 2016

Niệm Phật nuôi lớn công đức như thế nào?


Chúng ta hẵn đã có nhiều phước đức nhân duyên trong quá khứ mới có thể tin hiểu giáo lý Tịnh độ một cách dễ dàng khi mới đầu nghe qua. Đối với gốc rễ của các công đức, trí tuệ và niềm tin là hai thứ có liên hệ mật thiết với nhau. Vì vậy, niềm tin nhờ sự lý giải Kinh điển và niềm tin nhờ sự thành tâm đều được xem là những bước khởi đầu để đi vào pháp môn Tịnh độ, là nền giáo lý Phật giáo khó tin khó hiểu.

Trong Kinh Di Đà, Đức Phật Thích Ca đã chọn ngài Xá-lợi-phất làm người đối thoại, và Đức Phật đã gọi ngài Xá-lợi-phất đến 38 lần để gây sự chú ý cho thính chúng. Do vì, Xá-lợi-phất là bậc đại trí tuệ trong hàng đệ tử của Phật, vì vậy, công đức của ngài Xá-lợi-phất, đặc biệt là gốc rễ của niềm tin hẵn là rất sâu sắc để ngài thể nhập vào giáo lý Tịnh độ.

Thursday, 14 January 2016

Chính quyền vào cuộc khi nhiều người thuộc giai cấp cùng đinh ở bang Gujarat quy y đạo Phật



Sau khi 5.000 tiện dân (Dalits) được Quy y tập thể tại thị trấn Junagagh, bang Gujarat Ấn Độ cách đây 2 năm, những người thuộc giai cấp thấp trong bang này lại tiếp tục Quy y với số lượng là 90 người do Viện Phật giáo Gujarat tổ chức.
Buổi lễ được tổ chức tuy đơn giản nhưng đầy ý nghĩa với hoa hồng được rải trong một hội trường mới xây dựng. Lễ truyền thọ giới pháp quy y này được gọi là “Diksha”, dưới sự chứng minh và tiến hành của Chư Tôn đức là các Tỳ-kheo trong Viện và nơi khác đến.

Sunday, 27 December 2015

Quy ước viết tắt trong Kinh điển Pāli

Ee: Bản văn tiếng Anh Hội Thánh Ðiển Pāli (PTS ) F. L Woodward,xb. 1925
Chữ Viết Tắt
Ee: Bản văn tiếng Anh Hội Thánh Ðiển Pāli (PTS ) F. L Woodward,xb. 1925
Ce: Bản văn Tiếng Sinhale, xuất bản tại, Colombo. 1928
Be: Bản văn tiếng Miến Chaṭṭhasaṅgāyana, xuất bản tại. Rangoon. 1958
Se: Bản văn Tiếng Thái, xuất bản tại Bangkok, 1922
*

Saturday, 12 December 2015

Tâm lý trị liệu và Phật giáo



TÂM LÝ TRỊ LIỆU GÓP PHẦN THÀNH TỰU NHỮNG MỤC TIÊU CỦA PHẬT GIÁO
  Marvin Levine

Giới thiệu
Bắt đầu từ khoảng 100 năm trước đây, các phương pháp của khoa học phương Tây khi ứng dụng vào bản thể vô tri vô giác và tạo ra những thành tựu đáng kinh ngạc, đã bắt đầu được sử dụng trong việc nghiên cứu các hành vi con người (Boring 1950, chương 14–21). Sự tập trung sâu sắc và nghiêm túc này vào chức năng hoạt động của con người đã đem lại nhiều thành tựu đáng kể trong việc làm giảm bớt khổ đau và nâng cao hạnh phúc cho con người. Chính vì những kết quả đó có liên hệ trực tiếp đến các mục tiêu của Phật giáo, thế nên người Phật tử có thể tìm thấy chúng có giá trị nhằm xem lại các phương pháp cụ thể đã được áp dụng để đạt được những kết quả như thế.   

Tuesday, 27 October 2015

Cử tri Phật giáo ở Bihar: Liệu họ có thể giành quyền quản lý Bồ Đề Đạo Tràng?



Một cộng đồng Phật tử nhỏ ở Bihar đi bỏ phiếu tuần qua mong muốn ngôi Đền Đại Giác (Maha Bodhi), một trong những ngôi đền linh thiêng nhất của họ, được trao lại cho người Phật tử. Tuy nhiên, họ nói rằng không ai ở Bihar hay New Delhi chịu lắng nghe họ.  

“Hiện có hơn 2.000 cử tri Phật giáo được đăng kí tại đây. Mong muốn của họ là nhìn thấy sự sửa đổi cái Đạo luật không công bằng kể từ năm 1949,” Kali Prasad Bodhi, một cựu quan chức không quân nói về Đạo luật ngôi đền Bodh Gaya năm 1949. Đạo luật này đã đưa ra một ủy ban gồm 8 người cho ngôi đền với 4 người Hindu kể cả trưởng ngôi đền, 4 người Phật tử và đương nhiên thẩm phán quận Gaya là chủ tịch. 

Sunday, 19 April 2015

Nội dung ôn tập

Nội dung ôn tập (học kỳ cuối năm 2)
- Tứ thiền
- Bát chánh đạo
- Nắm vững bài kinh Chuyển pháp luân (bài 16)
Pronunciation:
- Word stress: bài 15
- Pronunciation: bài 16
Hướng dẫn phần văn phạm:
How to use verbs followed by ‘infinitive’ and ‘to infinitive’
Động từ nguyên thể không ‘to’ (infinitive or bare infinitive) và nguyên thể có ‘to’ (to infinitive) là hai thể động từ thường xuyên được sử dụng trong câu văn tiếng Anh. Chúng thường được dùng trong các trường hợp như sau:
Infinitive:   do, go, work,…  
To infinitive: to do, to work, to have done, to have worked,…
A) Động từ nguyên thể không ‘to’ (verb without ‘to’):
a)      Dùng sau trợ động từ (auxiliary verbs) như: can, do, may, must, shall, will,…
Ví dụ: He can go; he can do; he must do that; he will do that;…
b)     Dùng sau động từ cảm quan (verbs of perception): fell, hear, see, watch,…
Ví dụ: We fell the house shake (Chúng ta cảm thấy ngôi nhà rung lắc)
           They hear the boys laugh aloud (Họ nghe thấy những đứa trẻ cười lớn)
           I watched the leaves fall (Tôi nhìn những chiếc lá rơi)
c)      Sau Let, make, help, have
Ví dụ: Let me see your pen (Cho tôi xem cây viết của bạn)
           They made us laugh (Họ làm/khiến chúng tôi cười)
           I will have my friend call you later (Tôi sẽ nói bạn tôi gọi cho bạn sau)
           We have helped them clean the floor (Chúng ta đã giúp họ lau nhà)
d)     Sau would rather, had better
Ví dụ: I would rather walk every day (Tôi thích đi bộ hang ngày hơn)
           We would rather work than play (Chúng ta nên làm việc hơn là chơi)
           I had better tell the truth (Tốt hơn tôi nên nói sự thật)
           We can’t do anything but wait (Chúng ta chẳng thể làm được gì ngoài việc phải chờ đợi)
B) Động từ nguyên thể có ‘to’ (verb with ‘to’):
1) Dùng làm chủ từ trong câu
To err is human (Phạm lỗi lầm là con người / làm người ai chẳng phạm lỗi lầm / sai lầm là thuộc tính của con người)
To forgive is divine (Tha thứ là cao thượng)
To work harder appears advisable (Làm việc siêng năng hơn cho thấy là thích hợp)
To associate with the unloved is painful (giao thiệp với người/vật không ưa thích là khổ)
Not to get one’s wish is a sad thing (không đạt được điều mình mong muốn là khổ)
To live with Noble Ones is ever happy (gần gũi với những bậc tôn quý thì luôn an lạc)
To practice the Path is necessary for us (Thực hành Thánh đạo là cần thiết cho chúng ta)
Các ví dụ trên thường được đảo lại như sau:
            It appears advisable to work harder
            It is necessary for us to practice the Path
            It is painful to associate with the unloved
            It is ever happy to live with the Noble Ones
2) Dùng làm bổ ngữ sau động từ nối (Linking verb)
            To see is to believe (thấy là tin) (is - linking verb)
Or        Seeing is believing (thay bằng một gerund – danh động từ)
            To be enlightened is to attain wisdom (Đạt được giác ngộ là đạt được trí tuệ)
Or        Attaining wisdom is winning supreme knowledge
            Becoming a Buddha is attaining Enlightenment
            Our purpose is to realize that supreme goal (Mục tiêu của chúng ta là giác ngộ mục đích tối thượng)
            The most important thing is to practice the Buddha’s teaching (Điều tối quan trọng là thực hành lời Phật dạy)
            To renounce evil is to purify oneself (Từ bỏ điều ác là tự làm trong sạch chính mình)
Or        Renouncing evil is purifying oneself.
3) Dùng làm bổ ngữ cho động từ:
            We like to study Buddhism (Chúng ta thích nghiên cứu Đạo Phật)
            We wish to fulfill the Noble Path (Chúng ta mong muốn thành tựu Thánh đạo)
            He has tried not to make such a mistake (Anh ta đã nỗ lực không phạm sai lầm đó)
            Buddhists aim to win wisdom (Phật tử hướng đến mục tiêu đạt được trí tuệ)
Ngoài ra, nhiều động từ theo sau phải là một ‘to infinitive’ (Xem lại phần ngữ pháp Gerund!)
4) Theo sau một động từ + một túc từ (làm bổ ngữ):
            They like us to join them (Họ thích chúng ta gia nhập họ)
5) Theo sau một động từ + how/what/when/which:
            He wondered what to do next (Anh ta thắc mắc không biết làm gì tiếp theo)
6) Dùng làm một tính từ sau một danh từ, đại danh từ như someone, something, anyone, nothing,…
            I have many things to do now (Tôi có nhiều việc phải làm bây giờ)
7) Được dùng sau một số danh từ như ability, attempt, decision, demand, desire, effort, offer, plan, power, refusal, request, way, wish,…
            The Dhamma Eye is the ability to see the Law of Impermanence (Pháp nhãn là khả năng nhìn thấu quy luật vô thường)
8) Được dùng sau “the first, the second,… the last, the best, the only,… để thay một mệnh đề liên hệ (relative clause):
            The Buddha is the only one to teach the Middle Path (Đức Phật là người duy nhất dạy về con đường Trung đạo)
9) Được dùng sau một số tính từ như glad, happy, delighted, pleased, anxious, afraid, fortunate, inclined, lucky, likely, prepared, ready, surprised, willing,…
            We are glad to welcome you to our school (chúng tôi hân hạnh/vui mừng chào đón bạn đến với trường chúng tôi)
10) Được dùng để bày tỏ một mục đích, a purpose:
            We went there to see the famous pagoda (chúng ta đến đó để xem ngôi chùa nổi tiếng đó)
11) Được dùng sau một Adjective/Adverb + enough:
            They are good enough to win the prize (họ đủ giỏi để thắng giải)
            These students work carefully enough to make progress (những sinh viên này học hành chu đáo để tiến bộ trong học tập)
12) Được dùng sau Too + Adjective/Adverb or So +Adj/Adv That or Too + Adj/Adv + For để thể hiện một kết quả (thường được dịch là quá…không thể):
            He is too young to understand the problem (Hắn quá trẻ để hiểu ra vấn đề đó/Anh ta quá trẻ không thể hiểu ra vấn đề đó)
            He is so young that he cannot understand the problem (Anh ta quá trẻ để mà hiểu được vấn đề đó)
13) BE + to Infinitive:
a) Để nói đến một chỉ dẫn:
            No one is to leave this place (không ai được rời khỏi đây)
            They are to stay there until tomorrow (họ phải ở lại đó mãi đến ngày mai/ tới mai họ mới được đi khỏi đó)
            You are to work here until 10 o’clock (bạn phải làm việc ở đây cho đến 10 giờ)
Là cách dùng phổ biến trong câu tường thuật:
            Direct speech: He says, “Wait till I come”
            Report:            He says that we are to wait until he comes.
Direct speech: He said, “If I fall asleep in class, wake me up”
            Report:            He said that if he fell asleep, we were to wake him up. (anh ta nói rằng, nếu như anh ta ngủ trong lớp thì hãy đánh thức anh ta dậy)
b) Bày tỏ một kế hoạch, a plan:
            The trip is to start in a week’s time (chuyến đi sẽ khởi hành trong thời gian một tuần)
            The rector is to make a speech tomorrow (vị hiệu trưởng sẽ có bài nói chuyện vào ngày mai)
c) Be about + to Infinitive để diễn tả việc sắp sửa diễn ra:
            They are about to go out (Họ sắp sửa đi ra ngoài)
We were about to start when it rained (chúng ta đã sắp sửa bắt đầu khi trời mưa)